Kính chào quý thầy cô

Gốc > NON SÔNG GẤM VÓC >

CHÙA THẦY - THIÊN PHÚC TỰ


Nghệ thuật kiến trúc Chùa Thầy với
Phật giáo Mật Tông

Đặng Thị Phong Lan



Chùa Thầy.

Thiền sư ngày đó thường nổi tiếng về phép thuật chữa bệnh. "Từ Đạo Hạnh hàng
ngày tụng kinh Đại bi tâm Đàlani đủ 108000 lần, sai khiến được Tứ trấn thiên vương,
trả thù cho cha. Sư còn làm bùa phép, bùa chú, còn thác sinh làm vua Lý Thần Tông
sau này"(2)

.

Tuy nhiên, Mật Tông khi truyền vào Việt Nam không còn độc lập như một tông phái
riêng mà nhanh chóng hòa vào tín ngưỡng dân gian, pha trộn với chân tế, cầu hồn,
pháp thuật, yểm bùa trị tà ma chữa bệnh…(3). Như vậy, chùa Thầy được coi là một
trong những ngôi chùa mang đậm dấu ấn của phái Mật Tông, chủ trương dùng hình
tượng cụ thể kết hợp với mật chú, mật ngữ để khai mở trí tuệ và giác ngộ, thường
sử dụng các yếu tố: phong thuỷ, nghệ thuật kiến trúc, nghệ thuật tạo hình, sắp đặt
điêu khắc, đồ thờ để tạo hiệu quả thị giác, để người Phật tử tự suy ngẫm đi đến giác
ngộ.

    Chùa Thầy (Thiên Phúc Tự), thuộc xã Thụy Khuê, huyện Quốc Oai,  Hà Nội. Từ lâu
đã nổi tiếng không phải chỉ ở vẻ đẹp của kiến trúc, danh lam thắng cảnh mà còn bởi
những truyền thuyết kỳ ảo, linh thiêng xung quanh thiền sư Từ Đạo Hạnh. Lối tu
mang màu sắc huyền bí của dòng thiền Mật Tông cùng với những huyền tích của
Từ Đạo Hạnh đã tạo nên những sắc thái riêng biệt của kiến trúc cũng như nghệ thuật
tổ chức không gian nơi đây.

    Trong quần thể danh thắng gồm 16 ngọn núi với những hang động nổi tiếng,
chùa Thầy nổi bật cả về quy mô và nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc. Dường như từng
ngọn núi, con sông nơi đây đều in dấu sự tích, cuộc đời tu hành của Từ Đạo Hạnh.
Cái tên "núi Thầy", "chùa Thầy", "Tổng Thầy" là cách mà dân gian thể hiện sự tôn
kính đối với vị "Thầy"-nhà sư trụ trì, hành lễ để cầu phúc, chữa bệnh, dạy nghề cho
dân địa phương. Là thiền sư đời thứ 12 của dòng thiền Tỳ Ly Đa Lưu Chi, một tông
phái của Trung Hoa truyền sang Việt Nam từ năm 580 cho đến cuối đời Lý, song cách
tu của Từ Đạo Hạnh cùng một số thiền sư khác như Vạn Hạnh, Ma Ha, Nguyễn Minh
Không… lại mang nhiều yếu tố Mật Giáo (1).  Bản thân dòng Tỳ Ly Đa Lưu Chi cũng
là sự kết hợp giữa Thiền Tông và Mật Tông, do vậy nó gần với tín ngưỡng phong
thuỷ, sấm kỳ, cầu đảo, điều phục tà ma, bốc thuốc… rất thịnh ở Trung Quốc và Việt
Nam. Thiền sư ngày đó thường nổi tiếng về phép thuật chữa bệnh. "Từ Đạo Hạnh
hàng ngày tụng kinh Đại bi tâm Đàlani đủ 108000 lần, sai khiến được Tứ trấn thiên
vương, trả thù cho cha. Sư còn làm bùa phép, bùa chú, còn thác sinh làm vua Lý
Thần Tông sau này".(2)

   Tuy nhiên, Mật Tông khi truyền vào Việt Nam không còn độc lập như một tông phái
riêng mà nhanh chóng hòa vào tín ngưỡng dân gian, pha trộn với chân tế, cầu hồn,
pháp thuật, yển bùa trị tà ma chữa bệnh(3). Như vậy, chùa Thầy được coi là một
trong những ngôi chùa mang đậm dấu ấn của phái Mật Tông, chủ trương dùng hình
tượng cụ thể kết hợp với mật chú, mật ngữ để khai mở trí tuệ và giác ngộ, thường
sử dụng các yếu tố: phong thuỷ, nghệ thuật kiến trúc, nghệ thuật tạo hình, sắp đặt
điêu khắc, đồ thờ để tạo hiệu quả thị giác, để người Phật tử tự suy ngẫm đi đến giác
ngộ. Tất cả những yếu tố này được qui gọn trong bốn pháp Mạn Trà la bao gồm
: "Đại Mạn Trà la, Tam muội gia Mạn Trà la, Pháp Mạn Trà la, Yến Ma Mạn Trà la"(4).

    Về phong thuỷ, chùa Thầy không chỉ ở vị trí đắc địa mà bản thân sự sắp đặt kiến
trúc phối hợp với cảnh quan thiên nhiên cũng phù hợp với thuyết phong thuỷ. Đó là
hình tượng con rồng. Núi Thầy được xem là con Rồng lẻ đàn sắc sảo (Quái Long),
chung quanh có Thập lục kỳ sơn (là các con Lân, con Phượng, con Rùa) chầu về.
Chùa Thầy được dựng ở chân núi Sài Sơn uốn lượn như đuôi rồng, mặt nhìn ra núi
Long Đẩu, phía trước là hồ Long Trì (ao rồng), xung quanh có làng xóm đông vui.
Chùa nằm trên khu đất Hàm Rồng, sân cỏ trước là hàm trên của rồng, bờ hồ bên
trái là hàm dưới, miệng rồng há ra đón hòn ngọn là Thủy Đình; hai dải đất rộng ra
hai bên là hai chân trước của rồng ôm lấy chùa; hai cầu Nhật Tiên Kiều và Nguyệt
Tiên Kiều là răng nanh của rồng; hai bên có giếng tượng trưng cho mắt rồng(5) ;
hai cây gạo khúc khuỷu vươn lên trời trước chùa là râu rồng; ba lớp chùa Hạ, Trung,
Thượng là đầu rồng; hành lang hai bên chùa có gác chuông, gác trống là tai rồng.
Chính vẻ đẹp, hình tượng kỳ ảo của chùa Thầy đã khiến Chúa Định Vương Trịnh Căn
(1682-1709) khi qua đây phải ghi lại trên bia Phật Tích Sơn Tự: "Nay thấy chùa
Thiên Phúc ở núi Phật Tích như viên ngọc nổi lên giữa đám ruộng sỏi đá rạng vẻ
xuân tươi cả bốn mùa"(6).

   Về kiến trúc, đây là một ngôi chùa tiền Phật hậu Thánh linh thiêng và đẹp đẽ,
đánh dấu sự hội nhập giữa tín ngưỡng bản địa với Phật giáo, giữa tính chất từ bi
của Phật với sự linh thiêng của Thánh. Đây cũng là  kiểu kiến trúc ở chùa Nền
(Đản Cơ Tự)cùng nằm trong hệ thống chùa liên quan đến Ngài.  Chùa Thầy được
biểu hiện bằng một cấu trúc hoàn chỉnh gắn kết giữa kiến trúc chùa với một cung
Thánh nối vào phía sau tòa nhà Tam Bảo trên cùng một trục. Cung Thánh là một
không gian đóng kín, với diện tích nhỏ để tạo nên vẻ huyền bí, linh thiêng. Toàn
bộ kiến trúc chùa trải dài, ăn cao dần theo triền núi theo bố cục nội công ngoại quốc,
dạng mặt bằng hoàn chỉnh, phổ biến nhất của kiến trúc Phật giáo thế kỷ XVII.
Khu Tam Bảo bao gồm cả tòa nhà Tiền đường, Thiêu hương, Thượng điện gắn kết
theo chữ (Công), hai bên có hai dãy hành lang dài nối gác chuông, gác chống, nhà
hậu tạo nên một khung chữ nhật (Quốc), tạo cho chùa một không gian thoáng bên
trong nhưng lại kín đáo bên ngoài. Cùng kiểu, còn có một số chùa thờ Thánh khác
như Bối Khê (Hà Tây), Keo (Thái Bình), Láng (Hà Nội)… Song ở những chùa này,
ngay ở kiến trúc phía ngoài có sự kết hợp giữa kiến trúc chùa (Tam quan) với kiến
trúc đền (Nghi môn) gọi chung là Tam quan nội, Tam quan ngoại. Với những chùa
mà việc thờ thánh quan trọng hơn thờ Phật thì ngũ môn hay nghi môn tứ trụ của đền
được đặt trước Tam quan chùa. Chùa Thầy xưa nay không có Tam quan, bởi thế
không có đường vào mặt trước. Đó cũng là đặc điểm riêng của kiến trúc chùa Thầy.
Một dấu ấn nữa ghi nhận sự kết hợp tín ngưỡng bản địa với Phật giáo là việc sử
dụng những miếu thờ Thần để Phật hóa Thần. Hang Thánh hóa của chùa Thầy nay
vẫn còn treo biển Hương Hải Am gợi về nơi tu hành xưa của Từ Đạo Hạnh. "Khởi đầu
chùa Thầy chỉ là một am nhỏ ứng với Bồ đề viện của Từ Đạo Hạnh, tương ứng với
tòa "Điện Thánh" của chùa. Hiện nay nền điện thánh còn bảy hòn đá tảng chân cột
bằng đá màu đỏ nâu kích thước 0.65m x 0,65m và một số hiện vật niên đại sớm
thời Lý"(7).

    Những tòa chính của chùa Thầy được xây trên nền rất cao, thấp nhất là hành lang
và nhà hậu cũng được làm trên nền cao 1m, tiền đường cao hơn mặt đất 1m, điện
Phật cao 1,76m, cao nhất là điện thánh cao 2,20m, xung quanh kê đá hộc. Toàn bộ
cấu trúc chùa theo kiểu chồng dường kèm giá chiêng. Hành lang kiểu hệ thống vì
kèo ván chống. Đáng lưu ý nhất là tòa thiêu hương (hay ống muống) là kiến trúc
nối liền dựa chủ yếu hai tòa Tiền đường và Thượng điện nên không có cột, hai bên
có lan can gỗ chạm chấn song con tiện. Tuy nhiên ở một ngôi chùa đặc biệt như
chùa Thầy, nó còn được dân địa phương gọi là nhà cầu. Theo tác giả Trần Lâm -
Hồng Kiên(8) , kiến trúc của tòa này rất gần dạng thượng gia - hạ kiều dù trên dưới
không hề có nước. Cùng dạng kiến trúc thượng gia - hạ kiều còn có hai chiếc cầu đá
Nhật Tiên Kiều và Nguyệt Tiên Kiều uốn cong hai bên phải trái trước chùa, trong địa
hình tổng thể như hai răng nanh và hai mắt rồng. Cầu Nhật Tiên Kiều bên trái chùa
để đi ra đảo nhỏ có đền thờ Tam Thánh, còn Nguyệt Tiên Kiều bên phải chùa nối với
bờ hồ có đường lên núi, tương truyền do Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan xây dựng
cuối XVI đầu XVII. Mỗi cầu gồm năm gian, dưới xây đá cuốn, trên dựng bộ khung
nhà gỗ lợp ngói. Hai bên thành cầu thông thoáng, có lan can thấp. Ngoài nét đẹp
của kiến trúc soi bóng bên hồ, tạo sự bề thế cho chùa, Nhật - Nguyệt Tiên Kiều còn
là biểu hiện của trời - trăng, âm - dương đối đãi, hòa hợp tạo thế cân đối, tăng
thêm vẻ đẹp cho ngôi chùa. Nằm giữa hồ nước xanh Long Trì trên trục chính của
chùa là nhà Thủy Tạ kiểu phương đình, gồm hai tầng tám mái chồng diêm xoè ra
bốn phía tựa bông sen khổng lồ mọc lên từ hồ nước. Vào ngày hội chùa, đây là nơi
diễn ra trò rối nước vui nhộn. 




   Về điêu khắc, mỗi hệ thống tượng với chức năng riêng biệt sẽ được đặt ở những
vị trí nhất định trong chùa. Ở chùa Thầy với kiến trúc tiền Phật hậu Thánh, có hai
hệ thống tượng chính: hệ thống tượng Phật và hệ thống tượng Thánh.

   Trọng tâm của hệ thống tượng Phật là ở chùa Trung (Đại Hùng Bảo Điện). Cách
sắp xếp cơ bản vẫn chia trên hai chục chính: Trục ngang (thời gian) là bộ tượng Tam
Thế (Quá khứ, hiện tại, tương lai) và trục dọc (không gian) gồm tượng Tuyết Sơn -
Di Lặc - Thích Ca sơ sinh. Mỗi nhóm tượng được chú trọng, nhấn mạnh đến thần thái,
cách tạo hình ứng với chức năng của tượng. Bộ tượng tam thế tượng trưng cho ba
ngàn đức Phật trong ba kiếp, cho tính bình đẳng về Phật tính, do đó ba pho tượng
hình dáng, kích thước tư thế tọa thiền tương tự nhau chỉ khác thế tay và một vài chi
tiết trang trí. Nhóm tượng Di Đà Tam Tôn bao gồm Bồ Tát Đại Thế Chí - A di đà -
Bồ Tát Quan Âm. Ba tượng này có thế ngồi tọa thiền kiết già (yoga), khiến tâm
không thể lay động. Điểm đặc biệt ở ba pho tượng này là phong cách tạo hình mới
chú trọng yếu tố trang trí bằng hệ thống hạt nổi, bao gồm những hạt tròn to nhỏ
khác nhau, kết hợp với hoa cúc mãn khai kết năm hàng dọc, ba hàng ngang bao
quanh thân tượng. Chưa có tượng nào trước và sau này lại có nhiều hạt như vậy.
"Đó là hàng hạt kỳ ảo, được chạm theo một qui luật bắt nguồn từ ý nghĩa của Mật
Tông (gọi là bí mật giáo, một Phật phái tin vào linh phù, châu ngôn, pháp ấn) tạo
ra cái linh thiêng"(9).

Trên cao nhất là tượng Di Đà Tam tôn được tạc vào đời Mạc. Phật A Di Đà ngồi giữa
dáng vẻ phúc hậu. Pho tượng Quán Thế Âm bên phải ngồi buông chân trái xuống,
chân phải co lên, tay cầm một cây phất trần, dáng vẻ ung dung. Pho Đại Thế Chí
ngồi xếp bằng, hai tay bắt ấn chuẩn đề. Ba pho tượng mỗi pho một vẻ không giống
nhau, tạo thành một bộ tượng đẹp đặc biệt.

tam-bao-chua-Thay.jpg picture by nguyentruongquy

 

   Tiếp đó, theo trục dọc là tượng Tuyết Sơn-Di Lặc-Thích Ca sơ sinh tượng trưng cho
ba đoạn đời tu hành của Phật. Tuyết Sơn là Phật ở giai đoạn tu khổ hành, chưa
thành Phật, còn đau đáu về cuộc đời, với hình dạng một nhà sư gày gò, ngồi an tịnh,
trầm mặc, khuôn mặt đầy suy tư. Di Lặc được coi là vị Phật của tương lai, đấng
Từ Tôn cứu thế, người ta cho rằng "Di Lặc xuất thế thiên hạ thái bình". Bởi vậy tượng
Di Lặc thường béo tốt, mặt tròn, bụng phệ, chân tay ngắn, tư thế một chân co, một
chân chống, khuôn mặt tượng luôn cười hớn hở bắt nguồn từ đại tâm từ bi hỉ xả của
ngài(10) . Cuối cùng là tượng Thích Ca sơ sinh một tay chỉ lên trời, một tay chỉ
xuống đất ý nghĩa "Thiên thượng địa hạ, duy ngã độc tôn", xung quanh có chín con
rồng tượng trưng cho mây trời linh thiêng hội tụ lấy nước thiêng tẩy trừ những uế
trọc cho đức Phật.

   Bao bọc hai bên Tam Bảo là hành lang với hệ thống tượng La Hán, hiện thân của
những người tu hành xuất thân từ nhiều tầng lớp có tiểu sử, cá tính, lối tu khác nhau
do vậy cũng là nhóm tượng sinh động, hiện thực, tạo nhiều cảm hứng. Tuy nhiên 18
vị La Hán bằng đất ở chùa Thầy không phải là nhóm tượng đặc sắc về thẩm mỹ và
tạo hình. So với một số chùa cùng niên đại thế kỷ XVII, hệ thống tượng chùa Thầy
có số lượng ít, không đầy đủ, phần nào cho thấy vai trò của Từ Đạo Hạnh trong chùa
lớn hơn vai trò của Phật giáo.

   Tượng Từ Đạo Hạnh ở ba kiếp khác nhau được thờ trong điện Thánh: tượng kiếp
tu tiên đặt trong khám thờ bên trái, giữa là tượng chân thân của họ Từ, bên phải là
tượng Lý Thần Tông, hóa thân Từ Đạo Hạnh. Nếu pho chân thân Từ Đạo Hạnh mang
tính chân dung thể hiện khuôn mặt khắc khổ gân guốc, trong trang phục áo cà sa,
mũ pháp sư, ngồi thiền định thì tượng Lý Thần Tông mang nhiều yếu tố tượng trưng,
kích thước lớn hơn người thực. Sinh động, độc đáo nhất là tượng Từ Đạo Hạnh ở kiếp
tu tiên đặt trong khám thờ. Theo yếu tố Mật giáo tượng Phật được tạo hình động,
yếu tố cơ học được thể hiện ở pho tượng này. "Pho tượng có kích thước bằng người
thực, làm bằng gỗ chiên đàn đặt trong khám thờ. Khi xưa trong ruột tượng có đặt
dây máy theo lối con rối, do đó mỗi khi mở cửa khám tượng từ từ đứng dậy, đóng
cửa khám tượng lại từ từ ngồi xuống. Về sau... mới cắt dây máy, và tượng ngồi
luôn…"(11)

tam-bao-chua-Thay-4.jpg picture by nguyentruongquy

Tượng Thiền sư Từ Đạo Hạnh, phía trên là ba pho Di Đà
  Ban thờ chùa Thượng, nơi tập hợp đầy đủ phong cách điêu khắc VN từ thời Lý đến
Nguyễn, nghĩa là gần như toàn bộ nền phong kiến VN: Bệ đá tòa sen đỡ tượng
Từ Đạo Hạnh kiếp tu (mặc áo vàng) là hình thức đời Lý, giống bệ tượng A Di Đà Phật
Tích; Bệ đá lớn hai tầng ở giữa là điêu khắc thời Trần; Bộ tượng Tam Thế trên cùng
thời Mạc; Bàn thờ gỗ phía trước và hai con hạc là thời Lê; phần còn lại là thời Nguyễn
và sau này. Bức tượng Từ Đạo Hạnh được tạc rất sống, tô màu da như thật.

   Có thể thấy tượng Phật đã được thể hiện bằng nhiều yếu tố hình tượng, màu sắc...
để chuyển tải ý tưởng của đạo Phật. Điểm nổi bật của tượng Phật giáo nói chung,
tượng chùa Thầy nói riêng là trạng thái Thiền định, tĩnh tại, trừ tượng Kim Cương ở
thế động còn đều có thế tĩnh, tọa sen thiền định hay đứng thẳng.

ong-Thien-chua-Thay.jpg picture by nguyentruongquy

ong-Ac-chua-Thay.jpg picture by nguyentruongquy

 Hai pho  Hộ Pháp

Cái động chỉ nằm ở thế ấn quyết trên các cánh tay tượng Phật, một mặt tạo ra sự
linh thiêng, mặt khác, trong không gian ngôi chùa, nó có tác dụng giúp Phật tử thâm
nhập vào ý nghĩa của việc tu hành.

    Về hình và màu, tượng Phật thể hiện sự viên mãn hoàn chỉnh đầy đủ 32 quý
tướng nhà Phật: tai dài, mặt tròn đầy, tóc bụt ốc… Y phục cân đối tĩnh tại, hài hòa
thiên địa nhân. Riêng các tượng La hán có cá tính riêng do xuất thân, tiểu sử của
mỗi vị. Tượng Thánh mang tính chân dung, hiện thực, đặc biệt chú trọng đến tính
động, tác dụng mạnh tới thị giác người xem.

            Gian thờ Mẫu

   Về chất liệu: Các nghệ nhân phối hợp giữa gỗ và đất để tạo hình phong phú.
Nếu tượng gỗ với màu của vàng, đỏ của sơn, màu cánh gián dưới ánh đèn nến tạo
cảm giác lung linh, huyền ảo. Tượng đất hút màu tạo nên độ trầm sâu cho các pho
tượng. Tuỳ loại tượng, tuỳ chức năng mà hệ thống tượng được sử dụng trang trí màu
sắc cho phù hợp. Tượng Phật, đặc biệt tượng Tam thế, được sơn son thếp vàng tạo
vẻ trang nghiêm, linh thiêng. Tượng La hán, Hộ pháp sử dụng màu mạnh, tươi,
tương phản gây ấn tượng mạnh về sự trấn áp, oai phong, tạo cái động. Tượng
Tuyết Sơn màu đen, thể hiện giai đoạn khởi thủy, tu hành theo lối khổ hạnh của
Phật.

   Không chỉ sử dụng hệ thống điêu khắc, chùa Thầy còn sử dụng tổng hợp các yếu
tố sắp đặt kiến trúc không gian ánh sáng để chuyển tải giáo lý Phật pháp đến với
Phật tử. Đó là yếu tố phong thuỷ tìm sự hòa hợp con người - thiên nhiên, tạo vật.
Từ ngoài vào chùa cũng là sự chuyển trạng thái từ nơi cuộc sống thế tục để bước
vào một thế giới yên tĩnh lắng đọng. Tiền đường bao giờ cũng là nơi trống vắng,
ít tượng, tạo không gian yên tĩnh. Trong cái không gian đó, tượng Hộ pháp to lớn,
oai phong có tác dụng trấn áp sự ngạo mạn trong mỗi con người. Càng đi sâu vào
chùa Phật tử càng được đến gần với cõi Phật. Nơi tiếp xúc trọng tâm nhất là Phật
điện, đông đảo vị Phật đang cứu độ, giáo hóa chúng sinh. Về ánh sáng càng đi sâu
vào chùa, ánh sáng tự nhiên càng mất dần để chuyển sang ánh sáng của đèn, nếu
giúp con người tĩnh tâm suy ngẫm tạm xa rời cuộc sống đời thường.

    Nghệ thuật bày đặt điêu khắc, kiến trúc độc đáo, đẹp đẽ linh thiêng, kết hợp với
cảnh quan thiên nhiên vốn có (cụm di tích Chùa, hang động tự nhiên) và truyền
thuyết linh thiêng về vị thiền sư Từ Đạo Hạnh đã đưa chùa Thầy vào hàng đệ nhất
trong di sản nghệ thuật kiến trúc Phật giáo cổ truyền. Đến nay, chùa Thầy vẫn cuốn
hút khách hành hương đến vãn cảnh, cầu phúc cầu tài, và hấp dẫn các nhà nghiên
cứu tìm hiểu về giá trị nghệ thuật, thẩm mỹ, lịch sử, tôn giáo nơi đây.

 Lưng chừng núi Thầy là chùa Cao hay còn gọi là Đỉnh Sơn Tự (vốn là Hiển Thụy Am)
là nơi Từ Đạo Hạnh đến tu đầu tiên. Chùa nằm vào vị trí đẹp trong khu vực với tòa
kiến trúc gồm 3 gian, có gác chuông cao, vách chùa có nhiều bút tích các danh nho.
Phía trên chùa Cao có một mặt bằng gọi là chợ Trời với nhiều tảng đá hình bàn ghế,
kệ bày hàng, ly rượu,... trong đó có một phiến đá nhẵn lì được gọi là bàn cờ tiên.
Từ chùa Cao, đi vòng ra phía sau là hang Cắc Cớ huyền nhiệm. Hang khá sâu, lại
hẹp và tối, muồn vào hang phải mang theo đuốc và lửa, càng xuống sâu hang càng
cao, càng rộng, với nhiều ngóc ngách, lối đá rêu phong trơn tuột với những cột đá
sáng long lanh như được khảm bạc dát vàng, những âm thanh tưởng như từ cõi âm
vọng lên, những lỗ thông ra ngoài hang để ánh sáng luồn vào nhảy múa trong màn
đêm… và tận cùng của hàng động, tục truyền vẫn còn hài cốt của quân nhà Triệu do
Lữ Gia chỉ huy trong cuộc chiến chống lại nhà Hán từ đầu thế kỷ thứ 2 trước Công
Nguyên. Từ hang Cắc Cớ, men theo sườn núi qua hàng cây đại già là đến đền
Thượng, nơi thờ thánh Văn Xương và cũng là nơi hội họp của Đông Kinh Nghĩa
Thục xưa kia. Gần đền Thượng có hang Bụt Mọc với nhiều tảng đá được thời gian
bào mòn trông như tượng Phật. Tiếp đó là hang Bò với lối vào âm u. Cách một
đoạn là đến hang Gió với những ngọn gió thổi thông thốc cả hai đầu.

Cổng vào chùa Cao

Ở chân núi phía Tây còn có chùa Bối Am, còn gọi là chùa Một Mái, chùa có tên như
vậy là vì chùa chỉ có một mái ngói, mặt sau chùa dựa vào vách núi. Hang Thánh Hóa
nằm lưng chừng núi đá, lối vào hang chênh vênh, nhỏ hẹp, lờ mờ vẻ huyền bí, càng
nhìn kỹ vào vách đá trong hang, càng thấy có nhiều vết lõm, đó là: Vết đầu, vết
chân và vết tay, năm xưa Thiền sư Từ Đạo Hạnh đã tỳ vào lúc giải thi (lìa khỏi xác).
Bên cạnh đó có hang Hút Gió, thềm đá Thái Lão ...

 

 

Cổng trời ở hang Cắc Cớ


Nhắn tin cho tác giả
Lê Đê Phê @ 16:30 16/01/2011
Số lượt xem: 2651
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến